0225.3.519.687

9 điều kiêng cữ sau sinh mổ giúp mẹ hồi phục nhanh không ngờ

 

          Một vấn đề mà rất nhiều sản phụ quan tâm đó là cần kiêng cữ gì sau sinh mổ để vết thương nhanh lành, sẹo đẹp. Bởi lẽ sinh mổ là quá trình tạo xâm lấn rất lớn trên cơ thể mẹ, nếu không giữ gìn có thể gây nguy hiểm hoặc phiền toái về sau. Việc sớm hồi phục sau sinh cũng giúp mẹ bé sớm làm việc và chăm sóc con tốt hơn. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu vấn đề này trong bài viết dưới đây nhé.

          Thời gian kiêng cữ sau sinh mổ trong bao lâu là hợp lý?

          Quá trình sinh nở được ví với việc “vượt cạn”, vô cùng khó khăn, vất vả. Sau cuộc phẫu thuật, thuốc giảm đau tan hết sản phụ sẽ cảm thấy rất đau đớn. Nếu không chú ý kiêng cữ thì vết mổ sẽ chậm hồi phục và còn có nguy cơ nhiễm trùng.

          Thời gian kiêng cữ sau sinh thường được khuyến cáo là trong 6 tuần.

          Cần kiêng gì sau sinh mổ?

Để sản phụ mau bình phục sau sinh mổ, cần lưu ý các vấn đề sau đây:

          1 Không nên nằm ngửa trên mặt phẳng

Một vấn đề quan trọng cần được lưu tâm với sản phụ là tư thế nằm sau sinh. Thời điểm sau khi sinh mổ, sản phụ cần nằm ngửa để ổn định vết mổ. Khi hết thuốc tê, sản phụ cần tự mình hoặc nhờ trợ giúp nằm nghiêng sang một bên để hạn chế tử cung co thắt mạnh hơn. Nên kê gối mỏng ở phần eo để được dễ chịu hơn.

 

         Mẹ không nên nằm ngửa quá lâu

2 Không nằm một chỗ trong thời gian quá dài

          Việc nằm yên nghỉ ngơi sau khi sinh là rất cần thiết. Tuy nhiên sau 24 giờ sản phụ nên được đi lại nhẹ nhàng để kích thích máu lưu thông, ngừa chứng dính ruột, nghẽn tĩnh mạch sau mổ.

          Nếu sản phụ yếu chưa đứng dậy được thì cần được mát – xa chân, tay cho máu lưu thông và được đổi tư thế nằm thường xuyên.

          3 Không ăn quá no sau sinh

          Sau khi mổ, hệ tiêu hoá của mẹ bầu bị tác động nên hoạt động kém hiệu quả đi. Cụ thể là ruột và thành dạ dày xử lý thức ăn nạp vào chậm và yếu. Bởi nguyên nhân đó nên nếu sản phụ ăn quá nhiều, quá no một bữa thì thức ăn sẽ bị tích tụ, tắc nghẽn gây táo bón.

          4 Không tắm nước lạnh

          Sau khi sinh sản phụ nên tắm bằng nước ấm dưới vòi hoa sen, lau cơ thể bằng khăn sạch và mềm, nhẹ nhàng với vết mổ.

          5 Kiêng đồ ăn tanh, dầu mỡ, đồ cay nóng

          Hệ tiêu hoá của sản phụ sau khi sinh đang trong tình trạng yếu. Trong thời gian này khi ăn đồ tanh, dầu mỡ sẽ dễ đầy hơi, đau bụng, tiêu chảy. Bởi vậy sản phụ nên được ăn những đồ ăn mềm, dễ tiêu hoá.

          Đồ ăn nhiều dầu mỡ còn làm chất lượng sữa giảm đi, qua đó làm cho bé bị tiêu chảy, táo bón. Không nên uống nước lạnh, đồ uống có ga, chất kích thích.

 

Sau khi sinh mổ mẹ đừng nên làm việc sớm

 

          6 Không làm việc quá sớm

          Đời điểm sau sinh là lúc nội tiết tố thay đổi, cơ thể kiệt sức và thêm việc chăm sóc con nhỏ. Nếu sản phụ phải làm việc quá sớm dễ bị stress, dễ bị mất sữa, vết thương lâu lành. Các mẹ nên gác lại công việc để chăm sóc con trẻ và nghỉ ngơi hồi phục sức khoẻ.

          7 Vệ sinh sạch sẽ vùng kín

          Sản phụ nên rửa vùng kín mỗi ngày 3 lần với dung dịch vệ sinh phù hợp, có nồng độ Ph vừa phải. Ngoài ra sản phụ nên dùng đồ lót thấm hút, khô thoáng.

          8 Không quan hệ tình dục sớm

          Các chuyên gia cho rằng sau thời gian nghỉ dưỡng sức 6 tuần, tuỳ tình trạng và nhu cầu của 2 vợ chồng có thể quan hệ phù hợp.

          9 Không nịt bụng ngay sau khi sinh

          Nịt bụng là biện pháp mà nhiều sản phụ sau sinh sử dụng để lấy lại vóc dáng thẩm mỹ. Tuy nhiên việc này dễ làm vết mổ bị bí hơi, tạo điều kiện để vi khuẩn sinh sôi, dễ nhiễm trùng. Ngoài ra, nịt chặt bụng sẽ làm máu huyết ứ trệ, khó lưu thông.

Trên đây là những điều cần quan tâm về việc kiêng cữ sau khi sinh. Các mẹ mới sinh hãy cố gắng lưu ý thực hiện để sớm lấy lại sức khoẻ và tận hưởng niềm vui bên bé yêu. Nếu còn có gì thắc mắc cần tư vấn thì mẹ đừng ngại ngần liên hệ với Khoa Sản Nhi – Viện Y Học Biển nhé.

Rặn và thở đúng cách khi sinh thường, bạn đã biết?

Quá trình chuyển dạ là giai đoạn khó khăn nhất của cuộc sinh nở khi sản phụ phải chịu đựng những cơn co thắt trong 6 đến 12 giờ. Thậm chí với người sinh con đầu quá trình này có thể còn dài gấp hai lần. Việc kết hợp kỹ thuật thở và rặn đúng cách sẽ giúp sản phụ vượt cạn dễ dàng hơn. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ở dưới đây.

1 Kỹ thuật thở khi sinh thường

Khi đến giai đoạn sinh, sản phụ sẽ xuất hiện các cơn co tử cung. Thường cơn co này có 3 thì như sau:

– Thì co: Bụng của thai phụ thường có cảm giác cứng lên và cơn đau tăng dần

– Thì kéo dài: Cảm giác đau đạt đỉnh điểm ở thì kéo dài.

– Thì nghỉ: Cơn đau bụng sẽ giảm dần và có thể không còn cảm giác đau nữa. Đây là thời điểm chuẩn bị cho thì co tiếp theo.

Kỹ thuật thở đúng cách cần tập trung vào cơn co tử cung: khi thở sản phụ cần lưu ý hít vào bằng mũi và thở ra bằng miệng. Khi cảm thấy cơn đau của thì co sản phụ bắt đầu thở nhanh dần. Khi cơn đau tăng đến đỉnh điểm thì thở nhanh và nông. Khi cơn đau giảm dần thì thở chậm và sâu, thư giãn cơ thể để đón cơn co tiếp theo.

2 Kỹ thuật rặn khi sinh thường

Rặn là hành động quan trọng để giúp đẩy thai ra ngoài. Rặn không đúng cách sẽ khiến cuộc sinh kéo dài, sản phụ bị kiệt sức, bé có thể bị ngạt rất nguy hiểm. Bởi vậy ta cần lưu ý những điểm sau:

– Trước cuộc sinh mẹ cần nằm cao đầu, hơi nâng mông, hai chân đạp vào hai bàn đỡ và hai tay nắm lấy thành bàn sinh.

– Việc rặn bắt đầu khi có cơn co tử cung. Mẹ cần hít sâu một hơi và dồn hơi xuống bụng dưới để tạo lực đẩy. Nếu hết hơi thì mẹ có thể hít nối vào một hơi khác rồi rặn tiếp cho đến hết cơn đau.

Nếu rặn đúng cách thì bé sẽ ra đời tự nhiên, dễ dàng. Giữa 2 cơn co tử cung, mẹ nên thư giãn, hít vào thở ra đều đặn, nhịp nhàng để lấy sức chuẩn bị cho cơn rặn kế tiếp.

3 Những lưu ý nhỏ trong quá trình sinh thường

Ở người mới sinh con lần đầu (sinh con so), quá trình rặn sinh thường kéo dài từ 30 – 40 phút. Còn ở người sinh con rạ thì quá trình này có thể ngắn hơn và thường kéo dài từ 20 – 30 phút.

Trước khi sinh, thai phụ có thể luyện tập cách thở theo hướng dẫn bên trên và không nên quá căng thẳng, lo lắng mà hãy hít thở đều đặn và phối hợp chỉ dẫn của bác sĩ để cuộc đẻ diễn ra thuận lợi.

Bệnh nấm lưỡi ở trẻ em: Nguyên nhân và cách điều trị

               Nấm lưỡi hay còn gọi là nấm mệng là bệnh phổ biến ở cả người lớn và trẻ em. Tác nhân gây bệnh là một loại nấm men tên là Candida albicans. Nấm Candida albicans phát triển quá mức ở miệng sẽ dẫn đến tình trạng tưa lưỡi, gây ra các vùng thương tổn màu trắng kem ở lưỡi hoặc mặt trong của má. Bệnh thậm có thể lan ra nướu, amidan hoặc tới thành sau họng.

              Bệnh nấm lưỡi đặc biệt hay xảy ra ở trẻ sơ sinh vì sức đề kháng kém. Bệnh nấm lưỡi khiến trẻ đau nhức, khó chịu, hay quấy khóc, bỏ bú, ăn uống kém làm ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ của trẻ và tâm lý của cha mẹ.

Nguyên nhân gây nấm lưỡi ở trẻ sơ sinh?

  • Trẻ sơ sinh do hệ miễn dịch còn yếu ớt nên dù cơ địa bé khoẻ mạnh vẫn có tỷ lệ 2 đến 5% bé bị nấm Candida.
  • Phụ nữ có thai bị nấm âm đạo có thể lây nấm cho con.
  • Do môi trường cũng có thể chứa các bào tử nấm đang phát tán nên có thể tự nhiên bị nấm mà không do lây nhiễm

 

 

Cách điều trị bệnh nấm lưỡi

 Đầu tiên ta nên ý thức rằng nấm lưỡi cần được điều trị cẩn thận. Dù nghe ít nguy hiểm nhưng nấm có thể lây ra toàn thân và có thể tái đi tái lại nhiều lần. Phụ nữ đang cho con bú cần cẩn thận để khỏi lây nấm cho trẻ.

 Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh cần lựa chọn dung dịch chống nấm có tính an toàn cao như dung dịch Nystatin hoặc kem Miconazole. Ta thực hiện đánh tưa lưỡi theo quy trình sau:

  • Người thực hiện vệ sinh tay cẩn thận.
  • Đặt bé nằm ngửa, dùng gạc mềm quấn quanh ngón trỏ để nhúng vào dung dịch chống nấm rồi nhẹ nhàng lau mặt lưỡi bé từ trong ra ngoài. Nếu cần lau thêm lượt nữa thì phải đổi miếng gạc khác. Động tác phải nhẹ nhàng nhưng dứt khoát tránh làm trẻ bị sặc hoặc ngạt.

 Bổ sung các thuốc tăng cường miễn dịch, vitamin, các chất vi chất để tăng cường miễn dịch cho cơ thể.

 

 

Phòng ngừa bệnh nấm lưỡi ở trẻ như thế nào?

 Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Sữa chua là một thực phẩm có lợi trong việc bổ sung men tốt và loại bỏ men nấm bệnh.

 Đối với trẻ đang bú mẹ ta cần lưu ý điều trị phối hợp tình trạng nhiễm nấm của cả hai mẹ con để tránh bệnh lây qua lây lại.

Phẫu thuật nội soi bảo tồn tử cung thành công cho bệnh nhân chửa ngoài tử cung đoạn kẽ

           Ngày 07/09/2021, Khoa Sản – Nhi Viện Y Học Biển đã tiếp nhận bệnh nhân Đ.T.H 39 tuổi đến khám với biểu hiện: chậm kinh 3 tuần, đau bụng hạ vị ngày thứ 8. Sau khi được khám và hội chẩn, bệnh nhân được chẩn đoán là: Chửa ngoài tử cung đoạn kẽ bên Phải – thai 6 tuần.
           Sau khi hội chẩn, các bác sĩ của Khoa Sản Nhi – Viện Y học biển Việt Nam đã tiến hành phẫu thuật nội soi khâu cầm máu cho bệnh nhân. Đây là phương pháp can thiệp điều trị nhằm mục đích cầm chảy máu tổn thương qua nội soi. Biện pháp này có thể áp dụng cho tổn thương ở bất kể vị trí nào trong quá trình nội soi với ưu điểm là kỹ thuật đơn giản, tiết kiệm chi phí, có thể áp dụng dễ dàng.
Các Bác sĩ đã lấy được toàn bộ tổ chức rau thai sau khi khâu cầm máu qua nội soi.
         Sau khi phẫu thuật tình trạng bệnh nhân ổn định và được chăm sóc tại phòng hậu phẫu với đầy đủ dịch vụ. Bệnh nhân đã được xuất viện vào ngày 11/9/2021.

Thai ngoài tử cung là gì?

Thai ngoài tử cung, thai “lạc chỗ” hiện tượng xảy ra khi trứng thụ tinh làm tổ và phát triển ở một vị trí khác ngoài buồng tử cung như: vòi tử cung, buồng trứng, cổ tử cung, ổ bụng,…thậm chí là ở đoạn kẽ của tử cung.

Chiếm tỉ lệ 1 – 2 % thai nghén, thai ngoài tử cung là một trong những biến chứng sản khoa nguy hiểm ở ba tháng đầu thai kỳ. Bởi túi thai không được buồng tử cung bảo vệ, dẫn tới rất nhiều những hệ lụy cho thai phụ khi không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Thai khoảng 6 tuần, đã có tim thai.

Thế nào là thai ngoài tử cung đoạn kẽ?

Một trong những trường hợp hiếm gặp của thai ngoài tử cung là thai ở vị trí đoạn kẽ, thai đóng ở đoạn kẽ ống dẫn trứng. Trung bình khoảng 200.000 phụ nữ mang thai có 1 phụ nữ mắc phải tình trạng này.

Thai đoạn kẽ gây ra thách thức lớn cho các bác sỹ không chỉ ở giai đoạn điều trị mà còn ở giai đoạn chẩn đoán. Sẽ rất khó để xác định thai trong tử cung nhưng nằm ở vị trí góc và có thể dưỡng thai hay thai ngoài tử cung ở đoạn kẽ để điều trị chấm dứt thai kỳ.

Khối chửa ngoài nằm ở đoạn kẽ tử cung – hay được gọi là góc sừng tử cung.

Ngày Quốc tế Nam giới 19/11: Đàn ông cần được yêu thương

Tôn vinh những đóng góp của nam giới

Ngày Quốc tế Nam giới hiện được tổ chức tại hơn 70 quốc gia. Ngày này thực chất không phải nhằm “cạnh tranh” với ngày Quốc tế Phụ nữ mà chỉ là dịp tôn vinh những đóng góp của nam giới đối với nhân loại; tập trung vào vấn đề sức khỏe của nam giới và trẻ em nam, cải thiện quan hệ giữa các giới, thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế, luật gia đình, giáo dục và truyền thông.

Nhiều người thường nghĩ rằng, bất bình đẳng giới là sự thiệt thòi của phụ nữ so với đàn ông. Bởi vậy, các giải pháp cho vấn đề bình đẳng giới thường chỉ tập trung vào việc giúp đỡ phụ nữ và các bé gái, đồng thời “cải tạo” hành vi của đàn ông và các bé trai.

Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử, sự kỳ thị và thái độ của xã hội với nam giới cũng cần được chú ý. Thực tế, theo ước tính của Liên hợp quốc, nam giới tại 99% vùng lãnh thổ trên thế giới có tuổi thọ thấp hơn nhiều so với phụ nữ.

Trung bình, 4/5 số nạn nhân tử vong do bạo lực là nam giới và phái mạnh cũng chiếm 2/3 số ca tự tử. “Bởi vì nhiều đàn ông được xem là có vai trò trụ cột trong nhiều nền văn hóa khác nhau nên những vấn đề khó khăn của họ thường bị phớt lờ đi. Trong xã hội tiến bộ, bình đẳng giới ngày nay, đã đến lúc phải suy xét lại và tái định nghĩa về vai trò và những đóng góp của đàn ông cho gia đình và xã hội”, ông Anil Kumar, nhà sáng lập Tổ chức bảo vệ quyền đàn ông ở Ấn Độ, cho biết.

Cũng theo ông Anil, những sự hy sinh thầm lặng mà đàn ông dành cho xã hội và gia đình ít khi được biết đến và luôn được xem là bổn phận của họ. Các kết quả điều tra do Viện gia đình Mỹ chứng minh rằng, sự chuyển dịch nhanh chóng trong vai trò giới đã khiến đàn ông cảm thấy căng thẳng hơn về công việc và mâu thuẫn trong gia đình. Phút mong manh của người đàn ông là khi họ thất bại, vấp ngã.

Một mặt, họ không thể thừa nhận thất bại với xã hội, vì cái tôi. Mặt khác, họ gồng mình gánh vác trách nhiệm với gia đình. Họ đơn độc bước đi mà chân không thể chạm đất, hay đúng hơn họ rơi vào một hố sâu thăm thẳm. Lúc đó, họ cần người bạn đời lắng nghe, yêu thương và tôn trọng.

Nguồn và Tổng hợp : Baomoi

 

 

Beta- hCG và thai kỳ?

Mang thai là một hành trình kỳ diệu. Quá trình hình thành con người từ một tế bào nhỏ phát triển thành một đứa trẻ biết thở, biết cử động, biết vui, biết buồn….là một chặng đường rất dài nhưng đầy hạnh phúc, mong chờ cho các bậc cha, mẹ.

Ở những người phụ nữ có chu kỳ kinh đều, hàng tháng, từ một trong 2 buồng trứng sẽ có một nang noãn trưởng thành và rụng vào khoảng thời gian giữa chu kỳ kinh. Sau khi rụng, noãn sẽ di chuyển vào ống dẫn trứng. Tại đây, sau khi được thụ tinh, trứng tiếp tục hành trình di chuyển của mình về phía buồng tử cung để làm tổ vào lớp nội mạc tử cung trong khoang tử cung và tiếp tục phát triển thành thai.

Trong quá trình đó, khoảng thời gian từ lúc thụ thai, làm tổ cho đến khi siêu âm nhìn thấy thai, có tim thai trong buồng tử cung là một giai đoạn rất quan trọng với rất nhiều câu hỏi mà các bà mẹ thường gặp như: làm sao để biết là mình có thai? Khi nào thì thử que lên 2 vạch? Khi nào thì có thể nhìn thấy thai trên siêu âm? Khi nào thì Bác Sĩ cho làm xét nghiệm Beta- hCG và theo dõi kết quả ấy như thế nào?…..

Các bạn hãy cùng với các Bác Sĩ của khoa Sản- Nhi Viện Y Học Biển trả lời những câu hỏi này nhé.

Beta- hCG là gì?

hCG còn được gọi là hormone thai kỳ. Đây là một glycoprotein có hoạt tính sinh học tương tự như hoocmon Luteinizing.  Hầu như hCG chỉ được sản xuất ở nhau thai (Có một lượng rất nhỏ được tổng hợp trong thận thai nhi).

Các khối u ác tính khác nhau cũng tạo ra hCG, đôi khi với số lượng lớn, đặc biệt là các khối u Tế bào nuôi. hCG cũng được tạo ra với lượng rất nhỏ trong mô của phụ nữ không mang thai, có lẽ chủ yếu ở thùy trước tuyến yên.

Vì vậy, với những người phụ nữ bình thường, không có các bệnh lý tế bào nuôi. Việc phát hiện ra hCG trong máu hoặc nước tiểu luôn luôn cho thấy dấu hiệu có thai

Vậy, làm sao để phát hiện ra mình có thai?

Khi có thai, bên cạnh những thay đổi về cơ thể mẹ, sự rối loạn kinh nguyệt như chậm kinh, rong kinh, ra huyết bất thường chúng ta cần căn cứ vào các xét nghiệm. Các xét nghiệm phát hiện hCG trong máu mẹ và nước tiểu với độ chính xác cao là cơ sở cho các xét nghiệm nội tiết trong thai kỳ.

Với một xét nghiệm đảm bảo chất lượng, hCG có thể được phát hiện trong huyết thanh hoặc nước tiểu từ 8 đến 9 ngày sau khi thụ tinh. Thời gian xuất hiện muộn của hCG trong huyết thanh không quá 1,4 đến 2,0 ngày.

Que thử thai giúp tìm hCG trong nước tiểu:

Trong số các xét nghiệm phát hiện hCG trong nước tiểu, thì que thử thai là dụng cụ phổ biến nhất. Hàng năm, có triệu bộ dụng cụ kiểm tra mang thai được sử dụng.

Trong một nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Cole và các cộng sự (2011) phát hiện rằng: để chẩn đoán chính xác 95% trường hợp có thai tại thời điểm chậm kinh thì que thử thai phải dương tính ở nồng độ hCG là 12,5 mIU/mL.

Tuy nhiên, trên thực tế, với nồng độ hCG là 100 mIU / mL, chỉ có 44% các que thử thai được hiển thị rõ ràng 2 vạch dương tính. Và chỉ có khoảng 15 % các trường hợp mang thai có thể được chẩn đoán vào thời điểm bà mẹ bị chậm kinh.

Bên cạnh đó, thử que chỉ cho chúng ta kết quả có hay không hCG trong nước tiểu chứ không thể cho các mẹ biết về: giới tính thai, sự phát triển của thai và có một tỷ lệ rất nhỏ cho kết quả sai.

Vì vậy, các bà mẹ nếu vào thời điểm chậm kinh thử que âm tính, thì vẫn chưa chắc chắn mình không có thai đâu nhé. Các bạn có thể thử que lại sau 5-7 ngày hoặc đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa Sản để được làm thêm các xét nghiệm khác. Trong đó có xét nghiệm định lượng Beta- hCG máu, là một xét nghiệm có độ chính xác cao.

 

Xét nghiệm Beta-hCG máu giúp tìm hCG trong máu mẹ:

Định lượng Beta- hCG máu là một xét nghiệm có độ chính xác cực cao. Xét nghiệm có thể phát hiện hCG trong huyết thanh trong huyết thanh thấp như 1,0 mIU/mL bằng kỹ thuật miễn dịch. Với các xét nghiệm miễn dịch – siêu âm cực nhạy, giới hạn phát hiện thậm chí còn thấp hơn (Wilcox, 2001).

Với xét nghiệm máu, sự tăng của Beta- hCG có thể phát hiện được trong huyết tương của phụ nữ mang thai vào thời điểm 7 đến 9 ngày sau khi thụ tinh, tức là trước cả thời điểm bà mẹ thấy chậm kinh và là cơ sở để khẳng định sự có thai, theo dõi sự phát triển của thai trong giai đoạn sớm của thai kỳ.

Dưới đây là bảng theo dõi nồng độ Beta- hCG dựa trên tuổi thai (tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng- chỉ có giá trị tham khảo):

  • 3 tuần: 5 – 50 mIU/ml
  • 4 tuần : 5 – 426 mIU/ml
  • 5 tuần: 18 – 7,340 mIU/ml
  • 6 tuần :      1,080 – 56,500 mIU/ml
  • 7- 8 Tuần: 7, 650 – 229,000 mIU/ml
  • 9- 12 tuần: 25,700 – 288,000 mIU/ml
  • Phụ nữ không mang thai: <5.0 mIU/ml
  • Phụ nữ mãn kinh : 5 mIU/ml

Các Bác Sĩ theo dõi Beta-hCG như thế nào?

Khi đọc kết quả xét nghiệm Beta-hCG của bạn, các Bác Sĩ sẽ chú ý đến 2 vấn đề sau:

Thứ nhất: giá trị của Beta- hCG của bạn có nằm trên ngưỡng phân biệt- phải nhìn thấy thai trên siêu âm đường âm đạo không?

Ngưỡng phân biệt là gì? Đó là giá trị Beta- hCG mà nếu kết quả xét nghiệm của bạn trên mức này, bắt buộc phải nhìn thấy thai trong buồng tử cung trên siêu âm đường âm đạo nếu là thai kỳ bình thường.

Nếu xét nghiệm ở trên ngưỡng này mà trên siêu âm đường âm đạo vẫn chưa nhìn thấy thai thì có thể gặp các trường hợp: thai ngoài tử cung, thai chết lưu, thai đã sảy hoặc bệnh tế bào nuôi… Đặc biệt, trong những trường hợp đa thai, mức độ tăng hCG rất cao so với những trường hợp đơn thai.

Vậy ngưỡng phân biệt là bao nhiêu?

Năm 1994, Barnhart và cộng sự đã báo cáo rằng một người có nồng độ P-hCG huyết thanh > 1500 mIU / mL mà không quan sát thấy thai trong tử cung trên siêu âm âm đạo  thì 100% là không phải một thai kỳ sống.

Năm 2013 Connolly và các cộng sự đã đưa ra bằng chứng cho thấy ngưỡng cao hơn. Họ ghi nhận rằng khi mang thai sống trong tử cung, một túi thai đã sẽ được nhìn thấy ở 99% trường hợp với mức phân biệt là 3510 mIU / mL.

Tại nước ta, qua các nghiên cứu, các trung tâm Sản- Phụ khoa đặt ngưỡng phân biệt ở mức Beta- hCG > 2000 mIU / mL.

Thứ hai: là sự thay đổi của Beta- hCG giữa 2 lần làm xét nghiệm cách nhau 48h.

Nếu mức Beta-hCG lần thử đầu tiên thấp hơn giá trị ngưỡng phân biệt (thường là 2000 mUI/ml), chúng ta thường khó khẳng định được tình trạng và vị trí làm tổ của thai vì kích thước túi thai lúc này rất nhỏ, máy siêu âm khó có thể quan sát được.

Hoặc nếu bạn muốn đánh giá sự phát triển của thai trong những trường hợp  thai trong buồng tử cung có túi thai, nhưng chưa có tim thai hoặc nghi ngờ thai chết lưu.

Các xét nghiệm Beta-hCG nối tiếp cách nhau 48h sẽ được Bác Sĩ chỉ định để đánh giá sự phát triển của thai. Sự tăng hoặc giảm và mức độ tăng giảm của nồng độ Beta- hCG sẽ giúp các Bác Sĩ đưa ra hướng điều trị và theo dõi thích hợp.

Thứ nhất, với những thai kỳ tiến triển bình thường , Kadar và Romero (1987) báo cáo rằng, trung bình, sau mỗi 48h, giá trị Beta- hCG sẽ tăng gấp 2 lần (thấp nhất là tăng 66%). Nếu Beta-hCG tăng dưới mức này, có thể gợi ý đến tình trạng thai ngoài tử cung hoặc những thai phát triển yếu, có nguy cơ chết thai sớm.

Bên cạnh đó, Silva và các đồng nghiệp (2006) cũng cảnh báo rằng: kể cả khi giá trị Beta- hCG tăng trong giới hạn bình thường, vẫn có nguy cơ bệnh nhân bị thai ngoài tử cung.

Những trường hợp có kết quả Beta- hCG không thay đổi hoặc giảm sẽ gợi ý các Bác Sĩ nghĩ đến những trường hợp thai bất thường như: thai ngoài tử cung, sảy thai, thai chết lưu…. Và có thể tiến hành thêm những xét nghiệm khác để hỗ trợ chẩn đoán.

Kết luận: Qua bài viết trên, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp cho các bà mẹ những hiểu biết cơ bản về xét nghiệm Beta-hCG- một xét nghiệm rất phổ biến trong thời kỳ đầu của thai nghén. Tuy nhiên, việc đọc và phân tích kết quả xét nghiệm này rất phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên môn và thay đổi tùy từng trường hợp cụ thể của người bệnh. Vì vậy, khi nghi ngờ mình có thai, các mẹ hãy đến các cơ sở y tế chuyên ngành Sản- Phụ khoa để được làm xét nghiệm và nhận sự tư vấn, theo dõi đầy đủ, chính xác nhất.

Chúc các mẹ có thai kỳ mạnh khỏe, mẹ tròn, con vuông.

 (Nguồn: Williams Obstetrics 24th edition, Chap 5; Chap 9; Chap 19)

BS Nguyễn Công Điệp

Nhiệt độ nào an toàn nhất cho phòng của bé ?

Bài dịch có sự tham vấn thông tin của bác sĩ Nguyễn Trí Đoàn, Phó Trưởng Khoa Cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 2, Tp.HCM, Trưởng khoa Nhi – Phòng Khám Quốc tế Victoria Healthcare

Bạn có thể giúp bé ngủ bình an vô sự bằng cách giữ nhiệt độ  phòng trong khoảng từ 16 độ C – 20 độ C. Một cái nhiệt kế phòng sẽ giúp bạn luôn để mắt tới nhiệt độ.

Nếu  trẻ quá nóng sẽ có nguy cơ dẫn tới hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (Sudden infant death syndrome SIDS) người ta còn gọi hiện tượng này với cái tên là “ Cot death” tam dịch (chết trong nôi). Hội chứng SIDS không phổ biến ở trẻ dưới 1 tháng tuổi, hầu hết phổ biến ở tháng thứ 2. Gần 90% các ca bị SIDS xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Nhưng nguy cơ giảm dần khi trẻ lớn hơn và rất hiếm ca SIDS xảy ra sau 1 năm tuổi.

Vào những ngày ấm áp, hãy giữ che bé được mát mẻ bằng cách đóng màn hoặc rèm cửa nhưng mở cửa sổ phòng của bé.

Vào những ngày nóng bức,  lau cơ thể bé bằng nước hơi âm ấm và hãy bỏ tất cả đệm mút trong cũi (nôi) của bé để không khí có thể được lưu thông, lúc này bé có thể không cần mặc bất cứ chút quần áo nào. Bạn có thể đặt một chiếc quạt điện trong phòng của bé. Nếu đặt quạt, hãy đặt ở một khoảng cách an toàn và thường xuyên kiểm tra để phòng bé không quá lạnh.

Nếu bạn cho rằng bé đang quá nóng, hãy kiểm tra bụng của bé, nếu thấy nóng, vã mồ hôi hãy loại bỏ một số lớp quần áo cho bé. Đừng bao giờ lo lắng khi tay hoặc chân của bé có vẻ mát vì điều hày hầu như là bình thường.

Trong thời tiết lạnh hơn, bạn không nên bao bọc bé bằng quá nhiều tã lót. Nếu bé dưới 1 tuổi, không nên để bé ngủ với quá nhiều chăn nệm. Thay vào đó bạn có thể dùng túi ngủ không có mũ cho bé, túi nên nhẹ và vừa để bé không bị trượt và bên trong. Nếu Bạn sử dụng túi ngủ hãy chắc chắn rằng nó phù hợp theo mùa hoặc bạn có thể dùng chăn lưới hoặc chăn mỏng để đắp khi cần thiết.

 Không bao giờ được đặt chai nước nóng hoặc chăn điện trong cũi của bé cho dù thời tiết lạnh. Đặt cũi của bé đủ xa bộ tản nhiệt và máy sưởi.

 Bạn có thể mua một nhiệt kế cho phòng của bé.
——–

Nguyên bản tiếng Anh

What’s the safest temperature for my baby’s room?

You can help your baby to sleep safe and sound by keeping the temperature in his room between 16 degrees C and 20 degrees C. A basic room thermometer will help you to keep an eye on the temperature.

If your baby gets too hot, he may be more at risk of sudden infant death syndrome (SIDS), also known as cot death. SIDS is uncommon in babies who are less than a month old and most common during their second month. Nearly 90 per cent of cases of SIDS happen in babies under six months old. But the risk reduces as your baby grows older, and very few cases of SIDS happen after a year.

On very warm days, keep your baby cool by closing the curtains or blinds and opening a window in his room.

In really hot weather, sponge your baby gently with tepid water and remove any padding from around his cot so the air can circulate. He may not need to wear any clothing at all. You may want to place an electric fan in your baby’s bedroom. If you do, keep the fan well away from your baby’s cot and check regularly that his room is not too cold.

If you think your baby is getting too hot, check his tummy. If it feels hot, or if he’s sweaty, remove some layers. And don’t worry if your baby’s hands and feet feel cool, as this is completely normal.

In colder weather, you shouldn’t cover your baby with too much bedding, or wrap him in lots of clothes. If your baby is under a year old, he shouldn’t sleep with a duvet or quilt.

Instead, you could use a baby sleeping bag without a hood. This should be lightweight and the right size for your baby to prevent him from sliding down inside it. If you use a sleeping bag, make sure it’s the right tog for the season. Or you could use cellular blankets and sheets, and add or remove layers as

Lẫy – Mốc phát triển quan trọng mà bố mẹ cần chú ý

         Lẫy là một kỹ năng đặc biệt quan trọng bởi đây là bước đầu tiên giúp bé có thể tự mình dịch chuyển từ nơi này đến nơi khác. Một số bé biết lẫy khi mới 3 tháng tuổi, số khác trễ hơn vào 4-5 tháng tuổi và các bé sinh non có thể biết lẫy muộn hơn hẳn. Tuy nhiên, cũng có một số bé bỏ qua luôn giai đoạn này để chuyển sang biết ngồi, biết bò.

         Bé biết lẫy không chỉ giúp tăng vận động tự lập mà còn hỗ trợ cho bé học ngồi, đứng về sau. Đây là điều rất có lợi cho quá trình phát triển của con, vì lúc này, bé sẽ có thể nhìn mọi thứ xung quanh theo một cách hoàn toàn mới, tầm nhìn được mở rộng hơn, có khả năng quan sát môi trường xung quanh với nhiều góc độ khác nhau. Không những vậy, quá trình lẫy sẽ giúp tránh được chứng bẹp đầu, vì khi bé nằm quá nhiều, chứng bẹp đầu là điều khó tránh khỏi. Do đó, các mẹ cần lưu ý để nhận biết thời điểm trẻ tập lẫy và có cách dạy con lẫy đúng cách và hiệu quả.

          Những lưu ý khi cho trẻ tập lẫy

– Để giúp các trẻ tập lẫy đúng với độ tuổi quy định, các mẹ nên thường xuyên cho con tập dần các bài tập phát triển cơ bằng cách cho con thực hiện tummy times (mẹ nên cho bé nằm sấp mỗi ngày). Bài tập này rất quan trọng bởi vì nó giúp cho bé yêu phát triển các cơ xương cổ, cơ xương đầu và xương sống. Ngoài cách này ra, mẹ có thể ôm bé ngang hông của mình, để mặt của bé hướng lên trên.

– Mỗi bé đều có thời điểm lẫy khác nhau, bởi sẽ có nhiều yếu tố tác động riêng biệt đến khả năng của từng bé như: cân nặng, tính cách, sức khỏe. Do đó khi thấy con chưa biết lẫy sớm, các mẹ cũng không nên quá hoảng loạn. Tuy nhiên, khi con được 3 tháng tuổi trở đi, mẹ tuyệt đối không nên để bé nằm một mình trên giường, trên ghế sofa hoặc những nơi cao. Mẹ nên biết rằng chỉ cần một một cú lẫy bất ngờ của con lúc này có thể gây ra tại nạn rất lớn. Sau khi bé biết lẫy, cha mẹ cũng hết sức lưu ý đến điều này, hạn chế tối đa việc để bé một mình mà không có người lớn bên cạnh.

– Khi trẻ bắt đầu tập lẫy, các mẹ không nên cho con tập trong thời gian dài, mỗi ngày mẹ nên dành khoảng 20 phút cho bé tập lẫy, chia nhỏ thành nhiều lần tập trong ngày và mỗi lần chỉ nên cho bé tập khoảng 2 – 3 phút.

– Khi trẻ vừa ăn no xong, mẹ không nên cho trẻ tập lẫy, việc nãy có thể ảnh hưởng đến dạ dày của bé. Hơn thế nữa, khi mẹ nhận thấy bé có dấu hiệu không thoải mái hoặc đang mệt mỏi, quấy khóc mẹ cũng không nên Không nên cho bé tập lẫy, nếu không bé sẽ hình thành tâm lý phản kháng lại việc tập lẫy và không tỏ ra hợp tác với mẹ. Mẹ nên để bé thấy học lẫy là một hoạt động vui vẻ, chớ vội vàng và ép buộc bé khi con không thích.

– Mẹ có thể khuyến khích bé học lẫy thông qua trò chơi. Sau khi bé đã biết lẫy và vươn tay về phía đồ vật mình muốn, mẹ có thể đặt đồ chơi ở cách xa bé một chút để bé có ý thức phải lăn lại gần với đồ chơi. Đây là cách hữu hiệu để giúp bé lẫy thành thạo và biết trườn nhanh hơn.

– Mẹ cũng có thể nằm nghiêng về một bên và quan sát bé lật người để đến gần mẹ hơn. Hãy vỗ tay, mỉm cười khen ngợi những cố gắng của con.

– Khi trẻ tập lẫy, mẹ nên để bé nằm trên sàn nhà có không gian rộng rãi và thoải mái. Không nên để bé tập lẫy trên giường cao, tránh trường hợp người lớn không để ý khiến con ngã.

Chúc mẹ và bé thành công

Giải mã lý do vì sao trẻ sơ sinh thường hay mút tay ?

Mọi đứa trẻ sơ sinh bình thường đều sẽ trải qua giai đoạn thích mút tay, đặc biệt là khi các bé được 2 – 3 tháng; vì sao trẻ sơ sinh lại có thói quen như vậy?

Giai đoạn sơ sinh 2 – 3 tháng tuổi trẻ sơ sinh thường có nhu cầu mút tay, cắn hoặc đưa mọi vật xung quanh vào miệng. Phần lớn ông bà hay bố mẹ thường cố gắng kéo tay bé ra khỏi miệng, hoặc dùng những cách khác để ngăn cản như đeo bao tay cho bé… Tuy nhiên việc làm này là không nên, hãy tham khảo những lợi ích sau để quyết định có nên “can thiệp” vào công việc rất là chính đang này của bé hay không nhé?

Giai đoạn 2 – 3 tháng tuổi trẻ sơ sinh rất thích mút tay

Bé mút tay để cảm nhận về thế giới

Giai đoạn 2 – 3 tháng tuổi, cơ thể trẻ bắt đầu có sự phát triển vượt trội về giác quan, đặc biệt là xúc giác. Ở thời kỳ này, trẻ bắt đầu bằng sự hứng thú với chính ngón tay của mình. Các bé thường cố gắng vươn tay của mình lên, khuya khoắng và ngắm nghía, tiếp đó đưa bàn tay vào miệng và bắt đầu mút, gặm… Khi làm được điều đó, các bé rất thỏa mãn và thích thú. Nếu ngay lúc đó, bạn kéo ngón tay của bé ra khỏi miệng và tìm mọi cách ngăn cản bé tiếp tục hành động này có thể khiến bé tức giận và bắt đầu gào khóc.

Bé còn mút cả chân nữa

Vì sao lại như vậy? Hiện tượng trẻ sơ sinh thích mút tay được giải thích rằng đó là cách để bé bắt đầu nhận thức và khám phá thế giới. Môi và ngón tay là hai bộ phận có xúc giác phát triển sớm và nhạy cảm nhất. Thông qua việc mút tay, bé cảm nhận được bàn tay của mình. Khi bé sơ sinh mút tay đó chính là dấu hiệu về sự phát triển trí lực của bé. Mút tay là một cách bé học tập và chơi, lúc đầu bé sẽ đưa cả bàn tay vào miệng rồi dần dần đưa 3 ngón tay, 2 ngón tay và cuối cùng khi não bộ phát triển đến mức độ cao hơn thì bé sẽ chỉ đưa 1 ngón tay vào miệng mà thôi. Nhiều bé thậm chí đưa cả chân vào miệng để mút.

Khi bé có thể đưa ngón tay cái vào miệng, chứng tỏ cơ quan điều khiển sự vận động và các cơ bắp của bé có thể phối hợp theo ý muốn. Hành động mút tay ở bé dưới 2 tuổi là dấu hiệu cho biết não bộ của bé đang phát triển và bắt đầu tìm tòi thế giới xung quanh.

Tiếp đó, khi bàn tay trở nên linh hoạt hơn và bắt đầu cầm nắm được, trẻ sẽ cầm mọi thứ xung quanh mình và đưa vào miệng. Cơ quan cảm giác của miệng sẽ giúp bé nhận định được những thuộc tính của đồ vật đó như độ cứng, mềm, to, nhỏ, vị của chúng… Quá trình này giống như một cách thức kiểm nghiệm và khám phá những thứ lạ lẫm xung quanh mình. Thông qua việc này, các chức năng của khoang miệng cũng từng bước hoàn thiện.

Lúc trẻ ngậm mút tay sẽ kích thích não trẻ sản xuất ra chất endophin (chất giảm đau nội sinh), giúp cơ thể trẻ được thư giãn và tạo cho trẻ cảm giác thích thú, tương tự như khi trẻ đang được ăn những món ăn mà trẻ yêu thích. Theo diễn tiến tự nhiên, sau 6 tháng đầu tiên phản xạ ngậm mút tay của trẻ sẽ giảm dần. khoảng 70 – 90% số trẻ em có thói quen mút ngón tay cái, nhưng hầu hết các trẻ này sẽ tự động bỏ việc ngậm mút tay lúc được 3-5 tuổi.

Vậy nếu cứ để cho bé mút tay thì cha mẹ nên làm gì?

Đó là giữ vệ sinh môi trường xung quanh bé thường xuyên, vệ sinh thân thể bé thường xuyên đặc biệt là hai bàn tay. Hãy coi mút tay là công việc chính đáng của bé ở độ tuổi này và tạo điều kiện tốt nhất để bé được làm công việc chính đáng này, Cha mẹ cũng cần lưu ý là trẻ có thể cho bất cứ cái gì vào miệng và có thể nuốt chúng nên cần cách ly những vật sắc nhọn, những vật nhỏ, tròn như cúc áo, hòn bi… tránh trường hợp bé bị hóc hoặc gây nên dị vật đường thở. Cha mẹ nên tìm hiểu về nghiệm pháp Hemlich để cấp cứu những trường hợp này.

Lợi ích của Phương pháp “da kề da” sau khi sinh

Tiếp xúc ‘da kề da’ là khi bé được đặt trần không áo quần trên ngực hoặc bụng trần của mẹ. Mặt, ngực, bụng và chân của bé áp sát người mẹ, không có khoảng trống. Bé có thể mặc bỉm và đội mũ. Đầu bé nghiêng về một bên, trên mình đắp một tấm chăn ấm. Theo WHO, phương pháp này cần được thực hiện liên tục trong vòng ít nhất 1 giờ ngay sau sinh và lặp lại càng thường xuyên càng tốt trong những tuần đầu. Trường hợp trẻ sinh mổ, tiếp xúc ‘da kề da’ cần được thực hiện ngay khi mẹ tỉnh táo, có thể đáp ứng với xung quanh.

Cú sốc đầu đời và phương pháp sinh con nhẹ nhàng

Những giờ đầu tiên sau sinh là một cú sốc lớn với bé sơ sinh. Trong nhiều nền văn hóa, trẻ được quấn da kề da với mẹ ngay sau sinh và được ở rất gần mẹ trong những ngày đầu đời. Tạo Hóa đã lập trình để bé sơ sinh được cận kề mẹ vì điều này tốt cho trẻ và giúp bé cơ hội sống sót. Tiếp xúc da kề da giữa mẹ và bé, nhất là với bé sinh non, đang ngày càng được quan tâm và đánh giá cao. Cách đây gần 40 năm, tại Mỹ đã dấy lên phong trào “Sinh con nhẹ nhàng” sau khi cuốn sách “Sinh con không bạo lực” ra mắt vào năm 1974. Trong cuốn sách này, bác sĩ sản khoa người Pháp Ferderick Leboyer đã đề xuất nhiều biện pháp giúp cuộc sinh của người mẹ trở nên nhẹ nhàng hơn, trong đó có việc đặt bé sơ sinh da kề da lên bụng mẹ.

Hơn 4 thập kỷ nghiên cứu đã chứng minh rằng trong những tháng đầu đời, tiếp xúc da kề da, hay còn gọi là phương pháp chăm sóc Kangaroo, mang lại những lợi ích đáng kể cho mẹ và bé. Ngày càng có nhiều trung tâm sản khoa trên thế giới áp dụng phương pháp này. Thống kê của Mỹ tại thời điểm 2009 cho thấy 43% bệnh viện tại nước này áp dụng chính sách chăm sóc da kề da cho mẹ và con trong vòng 1 giờ sau sinh thường không biến chứng, 32% bệnh viện áp dụng chính sách này cho mẹ và con trong vòng 2 giờ sau sinh mổ không biến chứng.

Tại Việt Nam, tháng 11/2014, Bộ Y tế đã ban hành ‘Hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ’, trong đó có đề cập tới phương pháp tiếp xúc da kề da cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Nhiều bệnh viện Phụ sản – Nhi trong cả nước đã áp dụng phương pháp này và bước đầu thu được các phản hồi tích cực. Mới đây, chiến dịch “Cái ôm đầu tiên” khuyến khích thực hành tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con ngay sau sinh do Bộ Y tế phối hợp với WHO tổ chức ngày 17/7 cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều người dân, đặc biệt là các bà mẹ chuẩn bị sinh con.

Tiếp xúc ‘da kề da’ là cách tuyệt vời để mẹ và con sớm phục hồi sau một hành trình gian nan và tràn ngập cảm xúc, là phương thức hữu hiệu kết nối tình mẫu tử và cú hích mạnh khuyến khích bé bắt đầu bú mẹ. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy lợi ích lớn lao của tiếp xúc ‘da kề da’ giữa mẹ và con.

Lợi ích cho bé

  1. Ổn định thân nhiệt, nhịp tim, nhịp thở và đường huyết

Duy trì nhiệt độ cơ thể là điều hết sức quan trọng đối với trẻ sơ sinh. Sự chuyển tiếp từ môi trường ấm áp trong tử cung ra môi trường ngoài lạnh lẽo, cộng thêm làn da ẩm ướt khiến trẻ rất dễ bị nhiễm lạnh. Tạo Hóa đã lập trình để chăm lo việc này. Ngực của mẹ ấm hơn nhiều so với các vùng khác của cơ thể, chỉ trong vòng vài phút sau khi tiếp xúc ‘da kề da’, ngực mẹ sẽ tự điều chỉnh để làm ấm hay làm mát bé sơ sinh, tùy theo nhu cầu của trẻ. Nếu mẹ sinh đôi thì ngực mẹ cũng có thể phản ứng độc lập để chăm cho cả hai bé cùng lúc. Một nghiên cứu tiến hành ở các sản phụ sinh mổ cho thấy, trẻ được bố của mình bế ‘da kề da’ có thân nhiệt và nồng độ đường máu cao hơn so với các bé được đặt trong lồng ấp. Tiếp xúc ‘da kề da’ cũng giúp cơ thể bé học cách tự điều chỉnh, giữ ổn định các chỉ số sinh học cơ bản như nhịp tim, nhịp thở, huyết áp và đường máu.

  1. Giảm khóc và căng thẳng

Tiếp xúc ‘da kề da’ giữa mẹ và con chỉ trong vòng 20 phút đã giúp làm giảm 67-72% nồng độ cortisol (hoóc môn gây stress) trong cơ thể bé. Kề cận mẹ cũng giúp bé đỡ đau và nhanh chóng phục hồi sau cuộc đẻ. Kết quả là bé được chăm sóc theo cách này thường ít quấy khóc và ít căng thẳng hơn.

  1. Bảo vệ bé khỏi tác hại của việc tách khỏi mẹ

Nếu bị tách khỏi mẹ ngay khi mới sinh, tất cả các loài thú đều có phản ứng giống nhau: ‘phản đối’ rồi ‘tuyệt vọng’. Ban đầu, con thú nhỏ ‘phản đối’ bằng tiếng gào khóc và ngọ nguậy dữ dội. Đây là đáp ứng bản năng khi thú con bị đẩy khỏi ‘môi trường sống tự nhiên’, nơi nó được cho ăn, ủ ấm và cảm thấy an toàn. Tiếng khóc to và sự ngọ nguậy là sự phản đối của thú con nhằm thu hút sự chú ý của thú mẹ, để lại được gần gũi mẹ. Nếu mẹ và con bị cách ly trong một giai đoạn dài, phản ứng tiếp theo của thú nhỏ sẽ là ‘tuyệt vọng’. Nó có thể ngừng khóc, thôi không dẫy dụa và chỉ nằm yên – nó đã đầu hàng. Đây cũng là một hành vi bản năng nhằm tránh thu hút sự chú ý từ những kẻ săn mồi. Lúc này tất cả các hệ cơ quan hoạt động chậm lại để sống sót lâu dài. Thân nhiệt hạ, nhịp tim và tốc độ chuyển hóa giảm.

Bản năng tương tự cũng được nhận thấy ở trẻ sơ sinh. Khi bị đẩy ra khỏi môi trường sống cạnh mẹ, đầu tiên bé sẽ ‘phản đối’. Nghiên cứu cho thấy trẻ bị cách ly khỏi mẹ có số lần khóc nhiều gấp 10 lần và thời gian khóc dài hơn 40 lần so với trẻ được tiếp xúc ‘da kề da’ với mẹ. Những cơn khóc ngặt nghẽo không tốt cho trẻ sơ sinh. Chúng có thể ảnh hưởng tới chức năng phổi, làm tăng áp lực nội sọ, trì hoãn việc đóng lỗ thông liên nhĩ và tăng hoóc môn gây stress. Nếu không được đáp ứng và tiếp tục bị cách ly lâu dài, bé sẽ chuyển sang giai đoạn ‘thất vọng’. Khi này hoóc môn stress tăng ồ ạt, thân nhiệt giảm, nhịp tim giảm và đường huyết giảm. Tất cả các biến chứng này đều hay gặp ở trẻ sơ sinh bị cách ly khỏi mẹ, kể cả khi được chăm sóc tại khoa hồi sức cấp cứu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cách ly mẹ và con kéo dài có thể ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội và phát triển cảm xúc của trẻ sau này.

  1. Tạo điều kiện cho sự phát triển tối ưu của não

Khi mới chào đời, não của trẻ chưa trưởng thành hoàn toàn và có kích thước bằng 25% của người lớn. Tiếp xúc ‘da kề da’ là một trải nghiệm đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan cảm giác. Sự tiếp xúc này giúp phát triển các đường dẫn truyền thần kinh – điều đặc biệt cần thiết cho sự trưởng thành của não. Tiếp xúc ‘da kề da’ cũng thúc đẩy sự trưởng thành của các hạch hạnh nhân, bộ phận quan trọng nằm sâu trong trung tâm não. Các hạch này liên quan tới quá trình hình thành cảm xúc, tạo lập trí nhớ và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm.

Trong thời gian tiếp xúc ‘da kề da’ với mẹ, phần lớn trẻ ngủ thiếp đi một cách dễ dàng và đạt được trạng thái ngủ sâu tự nhiên kéo dài 60 phút hoặc hơn. Điều này rất quan trọng vì giai đoạn ngủ sâu là một trong những yếu tố thuận lợi nhất giúp đẩy nhanh quá trình trưởng thành của não.

  1. Kích thích tiêu hóa và giúp bé tăng cân

                Chỉ sau 1 giờ tiếp xúc ‘da kề da’, hệ tiêu hóa của bé đã được phục hồi về trạng thái cân bằng tối ưu. Dây thần kinh phế vị được kích hoạt, dẫn tới tăng kích thước các vi mao trong lòng ruột bé sơ sinh. Kết quả là diện tích bề mặt ruột tăng, khả năng hấp thu chất dinh dưỡng được cải thiện. Chăm sóc ‘da kề da’ cũng làm giảm hàm lượng cortisol và somatostatin ở trẻ, tạo điều kiện cho bé hấp thu và tiêu hóa thức ăn tốt hơn, ít bị rối loạn tiêu hóa hơn. Do không phải sử dụng mỡ nâu (mỡ lành mạnh mà trẻ có sẵn khi sinh) để duy trì thân nhiệt, trẻ sẽ tăng cân nhanh hơn.

  1. Tăng cường hệ miễn dịch

Tiếp xúc ‘da kề da’ giúp bé thu nạp các vi khuẩn quen thuộc từ làn da của mẹ. Điều này không gây nguy hiểm vì bé sơ sinh đã nhận được kháng thể chống lại đa số các vi khuẩn này ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Tiếp theo, cơ thể mẹ sẽ sản xuất các kháng thể chống lại vi khuẩn có trong môi trường của cả mẹ và của con. Các kháng thể này được truyền sang con thông qua sữa mẹ, giúp bảo vệ bé khỏi các bệnh nhiễm trùng.

Sự ‘chiếm đóng’ của các vi khuẩn quen thuộc của mẹ trên cơ thể bé sơ sinh cũng khiến các vi khuẩn và virus xa lạ, mới xuất hiện trong môi trường sinh nở, có ít cơ hội xâm nhập. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ sinh mổ vì các bé thường không được tiếp xúc với vi khuẩn lành ở đường sinh dục của mẹ – bước khởi đầu quan trọng cho hoạt động của hệ miễn dịch.

        7.Tăng tỷ lệ mẹ cho con bú và thời gian cho con bú 

Tiếp xúc ‘da kề da’ giúp khởi động hành vi tìm vú bản năng của trẻ. Bé sẽ ngậm bắt vú nhiều hơn và chính xác hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ bé bú mẹ ngay trong giờ đầu sau khi sinh tăng gấp đôi nếu bé được tiếp xúc ‘da kề da’ ngay thay vì bị quấn chặt trong tã.

Các bà mẹ thực hành chăm sóc da kề da ngay từ đầu thường tiếp tục cho con bú hoàn toàn nhiều hơn khi về nhà. Sự gia tăng hoóc môn oxytocin và prolactin của mẹ trong những giờ đầu sau sinh giúp tăng sản xuất sữa về lâu dài. Mẹ gặp khó khăn trong cho con bú thường có được sự cải thiện gần như tức khắc nhờ thực hành tiếp xúc da kề tối thiểu 60 phút mỗi lần, 1-2 lần mỗi ngày.

Một nghiên cứu tiến hành trên 1250 trẻ sơ sinh tại Ba Lan trong vòng 3 năm cho thấy, tiếp xúc da kề da làm tăng thời gian bé bú mẹ hoàn toàn lên 0,39 tháng và thời gian bú mẹ nói chung lên 1,43 tháng. Trẻ được giữ bên mẹ trong ít nhất 20 phút sẽ bú mẹ hoàn toàn lâu hơn 1,35 tháng và cai sữa muộn hơn 2,1 tháng so với những bé không được tiếp xúc ‘da kề da’ ngay sau khi sinh.

 

Tầm quan trọng của tiếp xúc da kề da tại các thời điểm khác nhau

0-90 phút sau khi sinh Quan trọng cho sự phát triển não bộ của trẻ.
0-6 giờ sau khi sinh Giúp ổn định nhịp thở và nhịp tim trong giai đoạn phục hồi.
6-24 giờ sau khi sinh Giúp bé hình thành lịch bú mẹ và chu kỳ ngủ ổn định
12h – 8 tuần sau sinh Củng cố sự gắn bó mẹ con.

 

Lợi ích cho mẹ

Khi nằm trên ngực trần của mẹ, bé ở rất gần với nguồn thực phẩm quý giá – sữa mẹ. Bé có thể nhìn thấy và cảm nhận núm vú/quầng vú, điều này có sức hấp dẫn lớn, khuyến khích bé bắt đầu bú mẹ. Hơn nữa, bế con theo kiểu này cũng kích thích cơ thể mẹ giải phóng oxytocin. Được mệnh danh là ‘hoóc môn tình yêu’, oxytocin giúp mẹ cảm thấy thư giãn, bớt lo lắng và gắn kết với con nhiều hơn. Hoóc môn này gia tăng trong thời gian tiếp xúc da kề da và tăng vọt mỗi khi bé dùng tay chà vào bầu vú mẹ.

Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành so sánh hành vi của nhóm bà mẹ được tiếp xúc da kề da trong thời gian ngắn (có thể chỉ ở mức 15 phút) với bé mới sinh và nhóm bà mẹ chỉ được thấy con trong chốc lát trước khi bị cách ly (các bé sơ sinh được giữ ở phòng bên cạnh và được đưa sang bú mẹ 4 giờ một lần). Kết quả cho thấy, sau khi xuất viện, các bà mẹ nhóm 1 tự tin và thành thục trong chăm sóc con hơn các bà mẹ ở nhóm 2. Kết quả này còn vượt qua giai đoạn sơ sinh. Tại thời điểm 3 tháng, các bà mẹ nhóm 1 hôn con nhiều hơn và dành nhiều thời gian ngắm nghía khuôn mặt của bé hơn. Lúc 1 tuổi họ bế ẵm, vuốt ve con nhiều hơn, thường xuyên đưa con đi khám định kỳ và cho con bú lâu hơn. Một nghiên cứu cho thấy thời gian cho con bú tăng gấp đôi chỉ nhờ 15 phút mẹ con được tiếp xúc ‘da kề da’ sớm.

Mẹ và con càng tiếp xúc ‘da kề da’ và bé càng bú nhiều thì oxytocin càng tăng tiết nhiều. Hoóc môn này dẫn tới một loạt biến đổi tích cực cho mẹ: rút ngắn thời gian phục hồi; giảm huyết áp; tăng khả năng chịu đau; mẹ cảm thấy hạnh phúc hơn, ít rơi vào trầm cảm; sữa về nhiều; tử cung co thắt làm giảm nguy cơ xuất huyết sau sinh; mẹ nhanh chóng lấy lại dáng hình thon thả trước khi mang bầu.