0225.3.519.687

Bệnh sởi – Phòng và tránh như nào ?

Tại Việt Nam, năm 2014 đã xảy ra dịch sởi trên toàn quốc với hơn 15.000 trường hợp mắc bệnh và 147 trường hợp tử vong; tại Hà Nội có hơn 1.700 trường hợp mắc và 14 trường hợp tử vong. Còn tại TP Hồ Chí Minh cũng đã ghi nhận tới 978 bệnh nhân Sởi, trong đó tới 95% người bệnh chưa từng được tiêm phòng trước đó.

Bên cạnh đó, theo Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) Trần Đắc Phu, trong khi tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng thấp do số người chưa tiêm vaccine vẫn còn cao. Bên cạnh đó, sự gia tăng giao lưu, du lịch giữa các tỉnh, TP thường xuyên biến động dân cư như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa… sẽ khiến cho nguy cơ bùng phát dịch lớn, dịch bệnh khó kiểm soát. Dịch Sởi thường có chu kỳ 4 – 5 năm/lần, dịch sởi gần đây nhất xảy ra năm 2014, cho đến năm 2019, dịch sởi đang có xu hướng bùng phát trở lại.

Theo đánh giá của các chuyên gia y tế, điều kiện thời tiết giao mùa ẩm ướt, thay đổi thất thường là môi trường thuận lợi để virus sinh sôi, số ca mắc Sởi sẽ tiếp tục gia tăng trong 3 tháng đầu năm 2019. Nguy cơ bùng phát dịch là rất lớn, nếu người dân chủ quan, không chú ý phòng bệnh cũng như không đưa trẻ đi tiêm vaccine đầy đủ, đúng lịch.

Biểu hiện của bệnh sởi:

Giai đoạn ủ bệnh

Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 10 đến 12 ngày là thời gian từ khi trẻ bị nhiễm virus gây bệnh đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn tiền triệu. Trong giai đoạn này trẻ không biểu hiện triệu chứng gì của bệnh.

Giai đoạn tiền triệu

Giai đoạn tiền triệu thường kéo dài 5 đến 15 ngày được đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy mũi nước, viêm kết mạc mắt. Những triệu chứng này hầu như luôn luôn xảy ra trước khi nội ban xuất hiện.

Giai đoạn phát ban

Đây là giai đoạn điển hình nhất của bệnh với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 đến 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát-sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ. Sau đó ban cũng nhạt dần và mất đi đúng theo tuần tự nó đã xuất hiện, nghĩa là cũng từ trên xuống dưới. Sau khi ban mất đi, trên da còn lại những dấu màu sậm lốm đốm như vằn da báo

Bị bệnh sởi có nguy hiểm không?

Sởi là căn bệnh lành tính, tuy dễ lây lan nhưng có thể tự khỏi. Tuy nhiên, bệnh có thể gây ra các nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc mắt, viêm phế quản, viêm não… có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt là ở trẻ nhỏ do hệ miễn dịch còn non yếu, những trẻ cơ địa suy dinh dưỡng hoặc có bệnh nền như bệnh tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính hay những bệnh suy giảm hệ miễn dịch.

Trên phụ nữ có thai, theo những nghiên cứu quốc tế, Virus này dường như không gây quái thai (Siegel, 1973). Tuy nhiên, nhiễm sởi khi có thai làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non và đẻ trẻ sơ sinh nhẹ cân (American Academy of Pediatrics, 2006; Siegel, 1966). Nếu một người phụ nữ bị sởi ngay sau sinh, có nguy cơ lây truyền bệnh cho trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non tháng.

Tiêm vaccine là cách phòng bệnh tốt nhất!

Theo ông Trần Đắc Phu, để phòng chống bệnh Sởi, Bộ Y tế đã tổ chức 2 chiến dịch tiêm vaccine Sởi – rubella tại 88 huyện của 19 tỉnh có nguy cơ cao. Đồng thời tiếp tục triển khai chiến dịch tiêm bổ sung vaccine Sởi – rubella cho trẻ 1 – 5 tuổi cho khoảng 4,2 triệu trẻ tại 418 huyện của 57 tỉnh, TP từ cuối năm 2018 đến nay.

Tiêm Vắc xin sởi không được chỉ định trong thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, những phụ nữ nhạy cảm có thể được tiêm phòng Vắc xin ngay sau khi sinh và việc cho con bú không phải là chống chỉ định của tiêm Vắc xin (Ohji, 2009)

Khi mắc Sởi, người bệnh cần làm gì?

TS Đỗ Duy Cường – Trưởng khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai lưu ý, khi gặp các dấu hiệu của bệnh Sởi (sốt, ho, chảy nước mũi, phát ban), người dân cần đến các cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám, tư vấn điều trị kịp thời. “Không nên đưa người bệnh điều trị vượt tuyến khi không cần thiết nhằm tránh quá tải. Thêm vào đó, môi trường bệnh viện dễ gây lây nhiễm chéo, khi người bệnh tới điều trị có thể mắc thêm các bệnh phối hợp, khiến bệnh từ nhẹ thành nặng, rồi vướng phải các nguy cơ về sức khỏe không đáng có”

Nếu trong gia đình đã có người mắc bệnh, nên thực hiện cách ly, hạn chế tiếp xúc với người mắc hoặc người nghi mắc bệnh. Khi phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế và các trang bị phòng hộ cá nhân. Đồng thời thường xuyên vệ sinh đường mũi, họng, mắt hàng ngày. Đặc biệt, không cho trẻ em dùng chung vật dụng cá nhân (khăn mặt, bàn chải, kính, cốc, chén, bát, đũa…), đồ chơi hoặc đồ vật dễ bị ô nhiễm chất tiết mũi họng. Lau sàn nhà, nắm đấm cửa, mặt bàn, ghế, khu vệ sinh chung hoặc bề mặt của đồ vật nghi ngờ bị ô nhiễm dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường từ 1 – 2 lần/ngày.

.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *